Lời khuyên thẳng trước: đừng chọn một độ dày thanh nhôm cho cả nhà. Cửa đi mặt tiền tầng 4 và cửa sổ nhỏ nhà vệ sinh chịu lực hoàn toàn khác nhau, nên độ dày thanh nhôm cũng nên khác nhau. Chọn dày đều cho tất cả là phí tiền; chọn mỏng đều cho tất cả là để dành rắc rối cho vài năm sau. Bài này đi theo từng vị trí lắp trong nhà, giải thích con số khuyến nghị và lý do kỹ thuật đằng sau.
Độ dày thanh nhôm ảnh hưởng đến điều gì?
Độ dày ở đây là chiều dày vách của thanh nhôm định hình, đo bằng milimét, không phải bề rộng mặt cắt. Với cùng một hệ (ví dụ Xingfa hệ 55), thanh 2,0 mm và thanh 1,4 mm nhìn bên ngoài giống nhau, nhưng thanh dày hơn:
- Cứng hơn, ít võng khi cánh cửa rộng hoặc cao.
- Giữ vít bản lề, vít khóa chắc hơn, ít bị tuôn ren sau thời gian dài đóng mở.
- Chịu áp lực gió tốt hơn, ít rung và ít hở gioăng khi gió mạnh.
- Nặng hơn và đắt hơn, kéo theo phụ kiện phải đủ tải.
Trong bảng giá của Nhôm Kính Đức Mạnh, cửa nhôm Xingfa Việt Nam dùng thanh 1,4–2,0 mm với kính cường lực 8 ly có giá 1.700.000 – 2.300.000 đ/m²; khoảng chênh trong đó phần lớn đến từ độ dày thanh được chọn cho từng vị trí.

Bảng độ dày khuyến nghị theo vị trí lắp
| Vị trí | Độ dày khuyến nghị | Lý do |
|---|---|---|
| Cửa đi chính, cửa ra ban công mở quay | 2,0 mm (khung và cánh) | Cánh lớn, nặng, đóng mở nhiều lần mỗi ngày; bản lề cần bắt vào vách dày để không xệ |
| Cửa lùa hệ 93 ô lớn (≥ 3 m) | Theo bộ thanh hệ 93, ưu tiên loại dày | Cánh nặng chạy trên bánh xe, ray đáy chịu tải liên tục |
| Cửa sổ mặt tiền tầng cao (từ tầng 4) | 1,4–2,0 mm, nghiêng về 2,0 mm với ô rộng | Áp lực gió tăng theo độ cao, cần hạn chế rung, hở gioăng |
| Cửa sổ phòng ngủ, phòng khách thấp tầng | 1,4 mm | Cánh nhỏ, tải nhẹ; 1,4 mm đủ cứng và tiết kiệm |
| Cửa đi WC, cửa phòng trong nhà | 1,4 mm (hoặc hệ 55 tiêu chuẩn) | Ít chịu gió, kích thước nhỏ |
| Ô fix, ô lấy sáng cố định | 1,2–1,4 mm | Không có cánh chuyển động, chỉ đỡ kính |
| Vách mặt dựng, ô kính lớn mặt tiền | Theo thiết kế kết cấu, thường dùng hệ chuyên dụng | Cần tính toán tải gió, không chọn theo cảm tính |
Các con số trên là khuyến nghị thực tế từ kinh nghiệm thi công nhà ở tại TP.HCM. Với công trình cao tầng hoặc vùng gió mạnh, nên làm theo tính toán của kỹ sư kết cấu. Bài cửa nhôm kính chịu gió bão cho nhà cao tầng có bảng cấu hình theo tầng.
Vì sao cửa đi cần dày hơn cửa sổ?
Một cánh cửa đi Xingfa rộng 0,9 m, cao 2,4 m với kính cường lực 8 ly nặng khoảng 40–50 kg tính cả khung. Toàn bộ trọng lượng đó treo lên ba bản lề, mỗi bản lề bắt vào vách nhôm bằng vài con vít. Nếu vách chỉ dày 1,2 mm, ren vít ăn vào kim loại rất ít; sau vài nghìn lần đóng mở, vít lỏng dần, cánh bắt đầu xệ, cạ vào khung hoặc sàn. Vách 2,0 mm cho ren ăn sâu hơn, giữ vít chắc hơn nhiều.
Cửa sổ thì khác: cánh nhỏ, nhẹ, ít đóng mở. Dùng 2,0 mm cho cửa sổ nhỏ chủ yếu tốn thêm tiền mà không cải thiện rõ độ bền. Nếu cửa đi nhà anh chị đã xệ, xem bài bản lề cửa nhôm bị xệ: tự sửa hay gọi thợ.
Cách đo độ dày thanh nhôm bằng thước kẹp
Thước kẹp (thước cặp) điện tử loại phổ thông là đủ dùng. Cách đo:
- Chọn vị trí đo: đầu thanh đã cắt, chưa lắp; hoặc mép thanh ở chỗ khoét lỗ khóa, lỗ tay nắm. Không đo trên phần có gân hoặc rãnh gioăng.
- Làm sạch: lau bavia (ba via) cắt và bụi nhôm để hai má thước tì phẳng.
- Kẹp vuông góc: đặt hai má thước vuông góc với vách, siết nhẹ, không bóp mạnh.
- Đo ít nhất 2–3 điểm: ở vách ngoài và vách trong của thanh, lấy số nhỏ nhất làm căn cứ.
- Trừ lớp sơn: sơn tĩnh điện dày khoảng vài chục micromet mỗi mặt, nên số đo có thể nhỉnh hơn độ dày nhôm khoảng 0,05–0,1 mm. Thiếu so với cam kết thì không thể đổ lỗi cho sơn.
Nếu số đo thiếu từ 0,2 mm trở lên so với báo giá, anh chị có quyền yêu cầu xưởng giải thích hoặc đổi thanh. Đây cũng là một trong sáu điểm kiểm tra trong bài Xingfa nhập khẩu và Xingfa Việt Nam khác nhau ở đâu.

Mấy hiểu lầm hay gặp về độ dày
“Thanh nặng là thanh dày.” Gần đúng, nhưng thanh có thể nặng vì mặt cắt to hơn chứ không phải vách dày hơn. So trọng lượng chỉ có ý nghĩa giữa hai thanh cùng hệ, cùng chiều dài.
“Cứ dày là kín.” Độ kín phụ thuộc gioăng, góc ép và cách lắp nhiều hơn độ dày vách. Thanh dày lắp ẩu vẫn hở.
“Báo giá ghi 1,4–2,0 mm là được.” Ghi khoảng như vậy chưa đủ. Hãy yêu cầu ghi cụ thể: khung bao bao nhiêu, cánh cửa đi bao nhiêu, cánh cửa sổ bao nhiêu.
Ba câu khách hỏi nhiều nhất về độ dày
Cửa sổ dùng 1,2 mm có được không? Với ô fix hoặc cửa sổ rất nhỏ trong nhà thì chấp nhận được. Cửa sổ có cánh mở, nhất là cửa mặt tiền, nên từ 1,4 mm trở lên để bản lề và chốt bám chắc.
Tăng từ 1,4 lên 2,0 mm thì giá tăng bao nhiêu? Tùy ô cửa, nhưng thường nằm trong khoảng chênh của đơn giá Xingfa Việt Nam (1.700.000 – 2.300.000 đ/m²). Chỉ nên tăng ở những vị trí thật sự cần.
Cửa đã lắp rồi có kiểm tra được độ dày không? Khó đo chính xác khi đã lắp, nhưng có thể đo ở lỗ khoét ổ khóa hoặc tay nắm nếu tháo phụ kiện ra. Vì vậy nên đo trước khi sản xuất hoặc lúc hàng vừa chở đến.
Gợi ý ghi vào báo giá, hợp đồng
Một dòng mẫu dễ đối chiếu: “Cửa đi ban công D1: nhôm Xingfa hệ 55, khung 1,4 mm, cánh 2,0 mm, kính cường lực 8 ly, phụ kiện [tên hãng, dòng].” Khi nghiệm thu, chỉ cần mang thước kẹp đo vài vị trí là biết có đúng hay không. Bảng giá theo từng cấu hình có trong bài báo giá cửa nhôm kính giá rẻ.
Ở xưởng Đức Mạnh, mọi báo giá đều ghi độ dày theo từng loại thanh và khách được đo thử trước khi sản xuất. Chúng tôi làm cửa nhôm kính giá rẻ nhưng không tiết kiệm bằng cách bào mỏng vách nhôm. Cần tư vấn độ dày cho từng ô cửa nhà mình, gọi 0909 462 189, thợ sẽ đến đo và đề xuất miễn phí.

